Bệnh Parvovirus

0

Parvovirus rất hay xảy ra ở chó con, lây lan nhanh và gây tử vong cao với em cún dưới một năm tuổi, đặc biệt với chó chưa được tiêm phòng bệnh bằng vaccine…

Cách xác định bệnh parvovirus ở chó con:

1. Có tiêu chảy liên tục không? Phân có máu hoặc bốc mùi khó chịu không?
2. Có biểu hiện lừ đừ, mỏi mệt không?
3. Chó đang khoẻ mạnh, hoạt bát bỗng dưng chỉ nằm ủ rũ suốt ngày?
4. Chó có nôn liên tục suốt ngày không?
5. Có biểu hiện mất nước không?
6. Có biếng ăn hoặc ăn bỏ ăn không?Parvovirus xảy ra trầm trọng với phần lớn chó non, tuy nhiên – chó trưởng thành cũng có thể mắc bệnh này. Can thiệp sớm vẫn có thể điều trị được, nếu không điều trị, tỷ lệ tử vong trên 80% chó chết vì bệnh Parvo.
Do chủ nuôi chó chưa hiểu biết về bệnh Pavo nên để chó của mình quá muộn không điều trị, bệnh xảy ra nhanh và chó thường chết sau 48-72 giờ kể từ khi có những triệu chứng đầu tiên.
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-
Chó bị Parvo (mất nước, rối loạn điện giải, xuất huyết toàn bộ ống tiêu hóa, tiêu chảy ra máu)
Bệnh parvo là bệnh như thế nào?
Là bệnh truyền nhiễm cấp tính do Canine Parvovirus type 2 gây ra (CPV2) gây viêm ruột xuất huyết lẫn dịch nhầy và máu ói mửa nặng, bệnh thường nguy hiểm trên chó con, tỷ lệ chết cao, 50-100% thể viêm cơ tim xảy ra ở giai đoạn đầu trên chó con (2-4 tuần) suy giảm miễn dịch, tỷ lệ tử số cao trên chó còn bú.

Bệnh parvo là căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh. Bệnh lây trực tiếp từ chó sang chó hoặc qua phân thải có virus phát tán trong môi trường qua các nhân tố trung gian truyền lây: dụng cụ chăn nuôi , chim chóc, gậm nhấm, côn trùng ruồi nhặng mang mầm bệnh từ phân tanh hôi hấp dẫn bay đến gây nhiễm cho chó khỏe từ ổ dịch tới các nơi khác. Thậm chí các phương tiện giao thông: vết lốp xe, giày dép có dính phân chó bệnh hoặc bàn tay tiếp xúc con người từ chó ốm cho chó khỏe cũng có thể làm lây lan bệnh.

Dịch tễ
–    Tuổi mắc bệnh : bệnh nghiêm trọng ở 6-16 tuần tuổi. Tuy nhiên, mọi lứa tuổi khác đều có thể mắc bệnh.
–    Nguồn virus chính là phân và nước.
–    Virus xâm nhập phổ biến qua đường tiêu hóa.
–    Lây lan trực tiếp: từ chó này đến chó khác, gián tiếp do tiếp xúc với môi trường vấy nhiễm phân thú bệnh.
–    Đối với thú chưa nhiễm bệnh thì mức độ cảm thụ có thể đến 100%, nhưng chó sau khi tiêm chủng hoặc cảm nhiễm tự nhiên được miễn dịch.
Cơ chế gây bệnh

Sau khi xâm nhập 2-4 ngày virus vào máu gây nhiễm trùng máu, đồng thời kèm theo sự phát triển của virus trong mô lympho ở vùng hầu họng. Virus phát triển trong những khe của tế bào ruột non, và xuất hiện trong phân 3-4 ngày. Sau khi bị nhiễm, đạt mức độ cao nhất khi dấu hiệu lâm sàng đầu tiên được phát hiện, lúc này ruột non bị phá hủy. Virus còn nhân lên ở tế bào cơ tim gây viêm cơ tim cấp tính và cũng phát triển ở tế bào lympho, tế bào tủy xương dẫn đến giảm thiểu số lượng bạch cầu, làm cơ thể thú suy giảm miễn dịch.
Triệu chứng

Hiện tượng cụ thể khi mắc bệnh parvo ở chó

Khi nhiễm virus ủ bệnh, trên 80% chó không hề có triệu chứng lâm sàng. Giai đoạn phát bệnh sau 3-10 ngày nhiễm virus, các dấu hiệu : mệt mỏi, ủ rũ, nôn khan ra bọt dãi nhớt màu vàng xanh, sốt và tiêu chảy thường có máu.

Virus gây viêm xuất huyết toàn bộ ống tiêu hóa, mất nước và rối loạn điện giải trầm trọng. Chó suy sụp nhanh chóng do mất máu, thiếu máu, hạ protein, nội độc tố sinh ra gây chứng nhiễm độc huyết endotoxemia, suy giảm các loại bạch cầu phòng vệ. Chó bị chết nhanh do shock, trụy tuần hoàn, hô hấp.

Việc chữa trị hiệu quả rất thấp, đặc biệt với chó non vì chúng chịu nhiều stress môi trường xung quanh, nhiễm ký sinh trùng đường ruột, thường kế phát các bệnh vi khuẩn khác gây viêm ống tiêu hóa trầm trọng.

Thể viêm ruột
–    Thời gian nung bệnh 3-5 ngày.
–    Tập trung trên chó 2-4 tháng tuổi, chó ủ rủ, bỏ ăn, sốt kéo dài khi triệu chứng tiêu chảy nặng xuất hiện.
–    Nhiệt độ giảm dần nếu chó bị suy nhược.
–    Ối mửa và tiêu chảy nặng, phân lúc đầu thối sau đó phân có màu hồng hoặc đỏ tươi tùy vị trí virus tấn công vào ruột.
–    Phân có lẫn niêm mạc ruột, có lẫn keo nhầy và có mùi đặc trưng.
–    Chó suy nhược nhanh và mất nước dữ dội.
Thể viêm cơ tim
–    Thường xảy ra với tỉ lệ thấp trên chó con nhỏ hơn 2 tháng tuổi.
–    Thú suy tim, niêm mạc nhợt nhạt hoặc thâm tím gan sưng, túi mật sưng, tim nhợt nhạt, nhão, lớp mỡ quanh tim và cơ tim xuất huyết. Trong thể này các biểu hiện ruột không rõ ràng, chó chết nhanh.
Thể kết hợp: làm chó chết nhanh
–    Thoái hóa cơ tim, tim suy nhược, mất nước.
–    Tiêu chảy ói mửa nặng, mất nước nhanh.
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-1

Hình 1. Tiêu chảy ra máu với nhiều nước
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-2

Hình 2. Chó ối mửa nặng
Bệnh tích
Bệnh tích đại thể

–    Lách không có dạng đồng nhất.
–    Hạch màng treo ruột triển dưỡng và xuất huyết, ruột nở rộng xung huyết hay xuất huyết thành ruột non mỏng do có sự bào mòn của nhung mao ruột, niêm mạc ruột bong tróc.
–    Gan có thể sưng, túi mật căng.
–    Trong thể cơ tim thường thấy thủy thủng ở phổi.
Bệnh tích vi thể
–    Hoại tử và tiêu chảy tế bào lympho trong mảng bayer.
–    Trong trung tâm mầm, trong các hạch bạch huyết màng ruột. Trên chó con còn bú tùy theo giai đoạn phát triển của bệnh mà có bệnh tích, thủy thủng hoặc hoại tử, hóa sợi với sự có mặt hay không những thể vùi ái bazơ trong nhân của sợi cơ tim.
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-3

Hinh 3. Lách co dạng không đồng nhất

benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-4

Hình 4. Viêm dạ dày ruột
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-5

Hình 5. Gan sưng to, xuất huyết
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-6

Hình 7. Xuất huyết ruột
Chẩn đoán
–    Dựa vào bệnh sử và những diễn biến của triệu chứng lâm sàng: viêm dạ dày ruột xuất huyết, thường ở độ tuổi 6 tuần đến 6 tháng.
–    Sốt không cao, có thể chết nhanh hoặc khỏi bệnh sau 5-6 ngày.
–    Giảm số lượng bạch cầu sau 4-6 ngày nhiễm bệnh

– Lấy mẫu phân nghi nhiễm làm phản ứng Miễn dịch học ELISA (Enzyme-Linked ImmunoSorbent Assay) phát hiện kháng thể từ bộ kháng nguyên mẫu, hoặc phản ứng “ngưng kết hồng cầu” Hemagglutination Assay tìm virus, hoặc soi trên kính hiển vi điện tử.
Chẩn đoán phân biệt
–    Bệnh viêm dạ dày ruột do Coronavirius: Bệnh lây lan nhanh nhưng thường phát triển chậm, ít khi gây chết, chó không sốt, số lượng bạch cầu không giảm, chó tiêu chảy nhiều nước có thể có nhiều chất nhầy hoặc máu.
–    Bệnh Carré: Sốt cao kèm theo triệu chứng viêm phổi, viêm kết mạc mắt, tiêu chảy ra máu nhưng mức độ tiêu chảy ít hơn. Thời gian mắc bệnh kéo dài hơn Parvo vào giai đoạn cuối của bệnh sẽ xuất hiện theo các triệu chứng nổi mụn mủ ở vùng da mỏng, gang bàn chân và da vùng gương mũi bị sừng hóa. Triệu chứng thần kinh xuất hiện trước khi chết.
Điều trị:

Cách điều trị, chữa bệnh parvo ở chó con

Cần điều trị bệnh sớm từ các dấu hiệu đầu tiên hoặc nghi nhiễm từ các chó ốm : ủ rũ, nôn khan, mất nước.

Không có thuốc đặc hiệu, chủ yếu điều trị triệu chứng, bù dịch cân bằng điện giải và chống các nhiễm trùng kế phát bằng một số loại kháng sinh: cefoxitin, metronidazole, timentin, enrofloxacin. Bổ sung vitamin B-Complex.

Điều trị những triệu chứng đặt biệt là triệu chứng ói mửa và tiêu chảy:

+ Chóng ói: Dùng Primperan (Metoclopramide): 0,5-1mg/kg thể trọng.
+ Bảo vệ niêm mạc dạ dày-ruột: Dùng 1 trong 3 lọai sau:
. Phosphalugel: 1gói/10kg thể trọng, ngày 2 lần.
. Actapulgite: 1gói/10kg thể trọng, ngày 2 lần.
. Smecta: 1gói/20kg thể trọng, ngày 3 lần.
+ Chống tiêu chảy: Dùng Imodium: 1 viên/ 15kg thể trọng, ngày 2 lần, dùng 3 ngày.
–    Chống mất nước và duy trì sự cân bằng chất điện giải dùng NOVA-ELECJECT 1ml/1-2 kg thể trọng tùy thuộc tình trạng mất sức, mất chất điện giải. Tiêm xoang bụng hoặc tiêm chậm vào tĩnh mạch, ngày 1-3 lần.
–    Sử dụng kháng sinh chống phụ nhiễm. Chọn 1 trong các loại sau:
+ NOVA-LINCO-SPECTIN: tiêm bắp 1ml/5kg thể trọng, ngày 1-2 lần, 3-4 ngày liên tục.
+ NOVA-ENROCIN 10%: tiêm bắp 1ml/10kg thể trọng, ngày 1 lần, 3-4 ngày.
Chú ý: Nên cho chó nhịn ăn trong những ngày đầu tiên sau khi phát bệnh, các ngày sau cho ăn thức ăn dễ tiêu, không chứa chất béo.
–    Tăng cường sức đề kháng
+ Dùng dung dịch Lactated Ringer 20-500 ml/ngày, tùy theo mức độ mất nước và thể trạng. Truyền thêm glucose 5% để cung năng lượng.
+ NOVA-AMINOVITA: 1ml/10 kg thể trọng. Tiêm bắp thịt, xoang bụng hoặc tiêm chậm vào tĩnh mạch, mỗi ngày 1 lần cho đến khi thú hồi phục.
+ NOVA-C.VIT: 1ml/10kg thể trọng. Tiêm sâu vào bắp thịt, ngày 1-2 lần cho đến khi khỏi bệnh.
+ NOVA-B.COMPLEX: 1ml/con. Tiêm sâu vào bắp thịt.
–    Sát trùng nơi nhốt chó bằng NOVADINE hoặc NOVASEPT hoặc NOVACIDE.

Có thể tạo “Miễn dịch thụ động” bằng truyền huyết thanh của chó khác đã xác định có miễn dịch với Parvo để điều trị chó ốm.

Phòng bệnh

1. Miễn dịch chủ động bằng tiêm vaccine Parvo cho chó ngay từ 6- 8 tuần tuổi. Tiêm nhắc lại sau một tháng để hoàn thành “Miễn dịch cơ bản” cho chó non. Các bác sỹ thú y Hoa-Kỳ khuyến cáo tiêm thêm lần thứ ba sau một tháng cho “Miễn dịch cơ bản”. Sau đó hàng năm phải chủng nhắc lại một lần. Trên các nhãn thuốc, vaccine Parvo có ký tự ” P ” viết tắt của Parvovirus.

2. Chó non dưới 4 tháng tuổi, chó chưa được miễn dịch với bệnh Parvo không nên cho tiếp xúc với chó khác hoặc các tác nhân “trung gian ” có thể truyền bệnh : môi trường, dụng cụ chăn nuôi vận chuyển chó, hoặc các chủ chó khác.

3. Cần tiêm phòng vaccine chậm nhất 1 tháng trước khi chó mẹ mang thai để tạo miễn dịch tự nhiên cho chó con sau khi sinh.

4. Chăm sóc, dinh dưỡng đủ chất và khoa học tăng sức kháng bệnh của chó. Tẩy giun sán chó non ngay từ một tháng tuổi.

5. Thực hiện công tác Kiểm dịch động vật và vệ sinh môi trường nghiêm ngặt ở các nơi tập trung nhiều chó : Dog show, Petshop, Tiệm làm đẹp chó, các Trung tâm huấn luyện chó, các chợ chó. Đặc biệt phải kiểm soát và xử lý chất thải từ các “lò mổ” , nơi chế biến và vận chuyển chó giết thịt. Chủ nuôi chó phải sau ít nhất 1 tháng từ khi có chó chết dịch mới được mang chó khác về nuôi. Xác chó chết nghi mắc bệnh phải được xử lý chôn sâu giữa hai lớp vôi bột, không thả trôi sông, suối, thùng rác hoặc các nơi công cộng.
Ngoài việc tiêm phòng bệnh Dại là bắt buộc, nên chăng ngành Thú Y Việt nam cũng đưa bệnh Parvo vào Danh mục Các Bệnh phải Kiểm dịch ?

6. Các chất tẩy rửa thông thường có thể diệt được virus. Cần làm sạch và sát trùng thường xuyên môi trường, chuồng trại, dụng cụ chăm sóc và các phương tiện vận chuyển chó.
Con người biết đến bênh parvo ở chó từ khi nào?

Canine parvovirus ( CPV ) phát hiện vào cuối những năm 1970, được xác nhận là dịch lần đầu tiên vào năm 1978 nhưng chỉ trong vòng một, hai năm sau đó nó đã trở thành đại dịch của chó trên toàn thế giới.

Qua phân lập từ năm 1979 đến 1984, các nhà khoa học đã xác định phần lớn chó nhiễm hai chủng virus CPV2a và CPV2b, nhưng ở Ý, Tây Ban Nha, và Việt Nam người ta còn phát hiện chủng virus thứ ba CPV2c cũng gây bệnh Parvo cho chó.

Bệnh parvo có lây sang loài động vật khác?

Virus Parvo còn gây bệnh cho cáo, chồn và các loài chó hoang dã. Người ta còn phát hiện 2 chủng CPV2a và CPV2b ở mèo và họ nhà mèo, nhưng hầu như không gây bệnh cho chúng. Virus Parvo CPV chỉ nguy hiểm trong loài chó, không gây bệnh cho loài chim, họ nhà mèo và con người, nhưng các yếu tố “trung gian” này lại có thể mang mầm bệnh làm lây lan các ổ dịch lớn cho chó. Virus Parvo có thể sống trong môi trường thiên nhiên có ánh sáng mặt trời 5 tháng, bóng tối 7 tháng, trong nhà ở có vệ sinh hàng ngày 1 tháng.

Một vài hình ảnh về triệu chứng lâm sàng, giai phẩu ruột chó bị mắc virus parvo
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-7
Xuất huyết niêm mạc ruột
benh-parvovirus-thuong-gap-o-cho-8
Tiêu chảy có máu, mùi tanh khẳm rất khó chịu.

Naipet.com 

Facebook Comments
Share.

Chat
1